Tìm hiểu về Equalizer (Bộ cân bằng) 2
- Ngày đăng: 28-09-2017, 9:01 am
- Lượt xem: 2342
Tiếp bài 2 - Tìm hiểu về Equalizer (Bộ cân bằng)
Cách sử dụng tổng quát EQ để điều khiển âm sắc
(General USE of EQ for Tone Control)
Những khía cạnh nào của chất lượng âm thanh có và không thể điều khiển bằng EQ? Trong Chương 2 đã giải thích ngắn gọn, phần lớn âm thanh liên quan đến hai khía cạnh cơ bản: chức năng của những phần tử dao động và sự cộng hưởng của nó. Trong khi đây là mô tả rất đơn giản về sự phối hợp âm thanh, nó phục vụ như hướng dẫn hữu ích để hiểu cái gì có và không thể điều khiển bằng EQ. EQ đã kiểm soát cao độ âm hay cấu trúc họa âm tương đối ít, được thiết lập phần lớn bởi những phân tử dao động của nguồn âm thanh, do đó lần lượt cũng bị ảnh hưởng bởi cách thức: lựa chọn, làm nổi bật, hay mặt khác, đặt nó trong sự chuyển động. Đưa vài dẫn chứng:
& Nếu ai đó đang hát hay chơi nhạc cụ bi lạc điệu, rõ ràng là có rất ít hay không có loại EQ nào (hay bất kỳ thiết bị khác, tại giáo trình này) có thể làm gì để có hiệu ứng cân bằng.
Hình 3:
Đường biểu diễn của EQ tham số điển hình.
(A) Đường biểu diễn đáp ứng sự cài đặt băng thông rộng và hẹp. Đường biểu diễn hiển thị là của EQ Orban model 622. Lưu ý ở A, một đường biểu diễn cách cắt khác từ đường boost (nâng lên). Điều này khá chuẩn. Lý do cần tiếp cận thiết kế này là cắt giảm mạnh thường được sử dụng chủ yếu cho mục đích giảm thiểu feedback thiên về những tần số hay cộng hưởng quá nhiều. Hầu như không bao giờ boost bắt đầu trên giải hẹp như vậy.
Trong (B), hiển thị đường biểu diễn của EQ Orban 672 A. Thiết kế này đặc biệt liên quan đến những cái gọi là đường hỗ tương (reciprocal curves), nơi đặc tính boost là phản ánh của đặc tính cắt giảm, ở đây chúng ta sẽ cần phải thận trọng khi bắt đầu boost hẹp (narrow) trong hầu hét các ứng dụng trực tiếp, (C) Mặt bảng điều khiển tiêu biểu của một EQ parametric (chỉ cho thấy một band).
& Nếu những bội âm do nhạc cụ tạo ra không hài hòa hay lạc điệu với note nhạc gốc (phổ biến, thí dụ, với bộ trống chưa điều chỉnh) thì EQ chắc chắn không thể thay đổi chuyện này. (Mặc dù với bộ trống, EQ linh hoạt tốt có thể giảm những phản hồi trong giải tần số của những bội âm này).
& Nếu, vì lý do nào đó, đặc tính cộng hưởng hoàn toàn thay đổi tùy theo từng nốt nhạc (điều này thỉnh thoảng xảy ra với tiếng nói), có ảnh hưởng thực tiễn tương đối nhỏ mà EQ có thể làm cân bằng lại. Việc tất cả chúng ta có thể làm là tìm ra thiết lập (setting) trung bình hợp lý.
& EQ rõ ràng không thể bù đắp cho những vấn đề không liên quan đến tần số, chẳng hạn như duy trì quá mức (excessive sustain) hay những vấn đề về sự năng động (dynamic) khác (vấn đề dynamic đôi khi làm mất tác dụng (corectible) với compressor và noise gates, sẽ thảo luận trong chương sau). Cũng không, nhưng cũng cần phải nói, EQ có thể thay đổi tiếng vang (reverberation) hay thay đổi đặc tính cộng hưởng của phòng hay không, mặc dù có thể sử dụng EQ để giảm nhẹ tần số tại chỗ nó xảy ra hiển nhiên nhất. Điều này đương nhiên được xếp loại vào đề mục sự cân bằng của hệ thống.
Thật ra, việc một EQ có thể làm, có liên quan đến việc điều chỉnh âm sắc, là:
& Điều chỉnh, hay trong vài trường hợp, thay đổi hoàn toàn, những cảm nhận về đặc điểm âm sắc của thiết bị có sự cộng hưởng (thí dụ, guitar thùng, vỏ ngoài trống, chuông clarinet, v.v) khi phân biệt với các phần tử dao động (thí dụ, dây đàn, mặt trống, nhạc khí có lưỡi gà, v.v). Những đặc tính cộng hưởng của nhạc cụ tham gia chủ yếu ở những tần số từ low đến mid-range. Cho một thí dụ đơn giản, nếu âm thanh nói chung quá mỏng, chúng ta có thể làm nó dày lên, và ngược lại.
& Giảm sự cộng hưởng tạo ra vài note nhạc nổi bật hơn những note khác. (Điều này yêu cầu phải chèn (insert) một notch filter hay EQ linh hoạt phía ngoài (flexible-outboard) khác).
& Trên nhạc cụ như bộ trống (chỉ có một cao độ cơ bản, trừ Roto-Toms và trống tương tự), EQ có thể lấy ra hay giảm những bội âm cơ bản và thấp (thông thường ở những tần số thấp khoảng 250Hz) để thêm hay bớt đi chiều sâu. Chúng ta cũng có thể làm giảm những bội âm cao hơn ở đây, nếu nó hiện diện, điều này tham gia ở lower mid-range, thường từ khoảng 300Hz đến 600Hz. Trong giải upper mid-range và high là những âm thanh dùi tiếp xúc với mặt trống mà chúng ta đã gặp phải, và dĩ nhiên EQ kiểm soát âm thanh vẻ mặt này rất đáng kể.
& EQ có thể thêm hay bớt đi những tần số cạnh biên, thí dụ, tiếng nẩy (bite) của dây guitar hay đàn bass, nhiều loại tiếng nổ (snap) của âm thanh trống, những âm bén hay âm suỵt của tiếng nói. Việc này tham gia ở những tần số cao. Đây là nơi vai trò của yếu tố dao động thường tham gia độc lập với sự cộng hưởng, vì hầu hết nhạc cụ chỉ có sự cộng hưởng tương đối ít ở tần số cao. Nhưng một lần nữa, nó có vấn đề với những phần tử dao động, thí dụ, với một số tiếng vo vo (buzzes) thì EQ có thể giảm thiểu nó, nhưng sẽ bị hy sinh và mất đi những âm bén thông thường hay tiếng nảy của âm thanh nhạc cụ.
Bảng 1 cho thấy tầm quan trọng của những giải âm chính có thể nghe được với vài âm thanh vocal phổ biến (gần giống với tiếng khi thì thầm-whispered). Đây là những dự định, gần như là hướng dẫn khá tốt cho sự hiểu biết vài âm thanh thường nghe, phù hợp với âm phổ (nói chung, không công khai khuyến khích làm bài tập này).
Bảng 1 Giải tần của âm nhấn giọng với âm thanh vocal thông thường
|
Âm thanh vocal Ooh (whispered) Uh (whispered) Aahh (whispered) K (không nguyên âm)
Ch (không nguyên âm)
S (không nguyên âm)
|
Giải tần Khoảng 125 - 300Hz với lượng năng lượng cao nhỏ Khoảng 160 - 400Hz với lượng năng lượng cao nhỏ Khoảng 200 - 500Hz với lượng năng lượng cao nhỏ Khoảng 500 - 2.000Hz với lượng năng lượng ở trên và ở dưới nhỏ Khoảng 2.000 -6.000Hz với lượng năng lượng tần số thấp hơn nhỏ Khoảng 4.000 - 12.000Hz với lượng năng lượng tần số thấp hơn nhỏ |
Bảng 2 cho thấy có thể thực hiện những liên kết với vài âm thanh nguyên âm cơ bản (liên quan đến giải tần chính của sự nhấn mạnh cộng hưởng trong khoang miệng, không phải là phát âm cao độ của hợp âm). Lắng nghe kỹ và ghi nhận cách âm thanh cơ bản cộng hưởng tăng tần số đã trình bày ở đây ra sao. Lưu ý: đây là một ý tưởng gần đúng của vài người đã nghiên cứu chính thức, làm cách nào để mô tả những giải tần số này khi nó đang rung, hay bị feedback liên tục. Trong bài diễn văn thực tế, cách phát âm nguyên âm trong miệng cho thật rõ bị giới hạn trong một giải cao độ hẹp hơn một chút (ít nhất là của âm gốc) và thật sự phức tạp hơn, với cao độ lên xuống và những thay đổi cộng hưởng và họa âm tạm chấp nhận, xen kẽ với phụ âm. Vì vậy, đây là những liên kết duy nhất để giúp đỡ người học tập có được cảm nhận ban đầu về những giải tần số trên EQ. (Nếu bạn thì thầm (Whisper) và duy trì (sustain) mỗi âm thanh, bạn có thể nghe thấy những cộng hưởng thực tế của miệng bạn ngày càng tăng cao độ khi bạn di chuyển qua những âm thanh đã liệt kê ở đây. Điều này có thể cho bạn ý tưởng làm sao phát triển liên kết này trong tiềm thức của bạn).
Bảng 2 Liên kết với âm thanh nguyên âm cơ bản
|
Âm thanh nguyên âm Oooh, U sâu o Ahh A E Eeeee (chipmunky?) |
Giải tần Khoảng 100 - 250Hz Khoảng 200 - 400Hz Khoảng 300-600Hz Khoảng 500-1.000Hz Khoảng 800Hz- 2kHz Khoảng 1.6kHz trở lên |
Như có thể thấy, có sự chồng chéo lên nhau giữa những giải gần đúng với những liên kết về cao độ, chủ yếu là do những nguyên âm này không phải là loại bất di bất dịch, và hiếm khi tự nó nói rõ được. Nó thường kết hợp với âm thanh nguyên âm và bởi những phụ âm khác trong cách cá thể nhận biết là một từ hay âm tiết, tất cả đều liên quan đến nhiều sự thay đổi cao độ phức tạp và sự cộng hưởng trong miệng.
Hình 4
Đường biểu diễn đáp ứng điển hình của EQ (10 band) loại một bát độ tại điểm boost 3dB, 6dB và 9dB, kết quả là sự thay đổi phản ứng đồng phase thể hiện trong B, Sự thay đổi đồng phase gây ra bởi cut hay boost là chuẩn, vá là đặc trưng của tất cả EQ hiện đang có sẵn. Đây có phải là vấn đề không? Tuyệt đối không, trừ khi tình huống có sự tham gia về thử nghiệm điện từ rất quan trọng. Những biến thể trong sự quan hệ đồng phase giữa những tần số là phần tự nhiên của môi trường âm thanh bình thường. Sự thay đổi lớn này thường từ hành vi đơn giản như dịch microphone đi một chút so với vị trí của nguồn âm thanh biến thể. Đồng thời, âm thanh phát ra từ những nguồn này, như đã đề cập trong chương 2, thường kết hợp theo loại kết hợp đa dạng. EQ có lý do của nó, nếu cần phải sử dụng. Người nghe nhạy cảm với chất lượng âm sắc hơn là phase tương đối.
Hình 5
Mặt bảng điều khiển điển hình của EQ 1/3-octave đôi.
Lưu ý switch lựa chọn (ghi là Scale) cho phép lựa chọn giữa cut/boost 6dB và 12dB. Nếu thiết lập 6dB sẽ cho phép kiểm soát tác động của những fader tốt hơn khi không bắt buộc phải cắt hay tăng nhiều. Về kỹ thuật, EQ 1/3 bát độ hay 1/6 bát độ được coi như bộ EQ bảng thông rộng, mặc dù sự phần chia phổ âm bao phủ bởi mỗi band, EQ có band hẹp thật sự có thể bao gồm giải tần số chỉ 3 hay 4Hz cho mỗi band, và chỉ được sử dụng để bớt chú trọng cộng hưởng hiển nhiên trong một hệ thống hay phòng cụ thể.
Dưới đây một bài tập thực tế để ngày càng trở nên quen thuộc với những giải tần số trong âm phổ, nó có thể hữu ích nếu làm một hay cả hai điều sau đây:
& Thiết lập (Setup) một hệ thống có một microphone, EQ (tốt hơn là EQ 1/3-octave), bộ khuếch đại (amplifier) và loa toàn giải (full-range) (tốt hơn là hệ thống rất nhỏ có kèm bộ hạn chế (limiter) để tránh khả năng thiệt hại cho bất kỳ bộ phận nào của hệ thống và/hay khi nghe quá lâu). Bắt đầu với tất cả Slider (fader) của EQ cho tới mức EQ sẽ cho phép. Chọn một slider của EQ (bắt đầu với bất cứ cái nào đó ở mid-range) và nâng (boost) nó lên tới mức có thể. Nâng gain (volume) của hệ thống lên đến điểm mà nó bị sẽ bị feedback (hú), và ghi nhớ những cao độ. Bây giờ lại bắt đầu ở phía giải dưới (khoảng 40 hay 50Hz, hay ở tần số thấp nhất mà tại đó hệ thống cho phép bạn có đủ gain để sinh ra feedback nghe được) và lập lại những thao tác trên, trong khi đặt tất cả slider khác ở mức tối thiểu (minimum). Lập lại những thao tác trên với slider kế tiếp cao hơn trong suốt toàn bộ âm phổ, trong khi cố gắng ghi nhớ những cao độ đã nghe (nếu cần, bạn hum, hay phát âm tất cả âm huýt sáo mà bạn có thể làm).
& Trong một môi trường yên tĩnh hợp lý, thiết lập (Setup) một máy phát sóng âm thanh (noise/audio generator) (nếu không có thiết bị này, sử dụng âm thanh của chính hệ thống) với một EQ, bộ khuếch đại và loa toàn giải. Thực hiện theo những thao tác trên, đặc biệt phải nghe và ghi nhớ cao độ mỗi band của EQ. Lập lại những thao tác đó, di chuyển những slider trong nhiều kết hợp khác nhau từ thấp nhất đến cao nhất và ở giữa, ghi nhận những thay đổi mà bạn đã làm.
Khi bài tập trên đã giúp bạn quen thuộc hơn với giải tần trong âm phổ, hãy thử các thao tác như sau:
- Thiết lập một Tape, hay CD player với bài nhạc thu âm hiện đại hay bài nhạc quen thuộc khác, một EQ mười band (một octave), ampplifier, và loa toàn giải tần. Thực hiện những thao tác boost một trong những band tại từng thời điểm để có sự thay đổi ý niệm về âm thanh của những bài nhạc bạn đã quen thuộc. (Hãy tham khảo phần hướng dẫn phẩm chất chủ quan liên quan đến tần số. Bạn sẽ bắt đầu cảm thấy được những thay đổi chung về chất lượng âm liên quan đến việc kiểm soát giải tần của mỗi band EQ).
- Lập lại các thao tác trong 1 với những slider của EQ, vị trí ở giữa hay còn gọi là flat. Cùng một lúc, kéo từng slider xuống dần dần đến vị trí cut tối đa, một lần nữa ghi nhận những thay đổi trong chất lượng âm.
- Lập lại 1 và 2 ở trên, di chuyển nhiều slider theo nhóm: thí dụ, di chuyển hai, ba, bốn, năm slider cùng thời điểm cả hai chiều trong suốt toàn bộ âm phổ. Lưu ý những thay đổi về chất lượng âm sắc.
- Lập lại quy trình trên với EQ 2/3 octave, ½ octave hay 1/3 octave để thêm quen thuộc với những âm sắc chưa kiểm soát tốt.
- Nếu có thể, xây dựng một thiết lập tương tự như trên với tiếng vocal, nhạc cụ trực tiếp phù hợp với EQ, ghi nhận những thay đổi trong chất lượng âm sắc trong những slider khác nhau hay những nhóm slider đã boost hay cut.
- Cuối cùng, nếu có thể, làm tương tự như trên với giọng nói hay nhạc cụ mix với một chương trình đã thu âm. Thay đổi EQ của giọng nói (vocal) hay nhạc cụ như trên, so với phần còn lại của sự pha trộn, lưu ý những thay đổi về chất lượng âm sắc trong âm phổ.
Sau đây là xem xét vài yếu tố chung để làm cân bằng (equalizing).
& Những đáp tần tổng thể tạo ra bởi sự kết hợp của những đường biểu diễn đáp tần qua hệ thống, từ nguồn âm thanh vào micro qua hệ thống đến loa, và xa hơn nữa, vào lĩnh vực nghe của khán giả.
& Phải nghe mọi sự thay đổi cân bằng cho giọng nói, nhạc cụ để so với những phẩm chất âm sắc của những tín hiệu input khác, sẽ được trộn (mix) lại. (Nói cách khác, sự thay đổi bởi EQ cho toàn bộ hỗn hợp mix thường có thể giải quyết nhiều vấn đề âm sắc. Nhưng những thay đổi riêng thực hiện trên những tín hiệu input hay subgroup sẽ thay đổi những âm thanh chủ yếu so với các âm thanh khác trong hỗn hợp này cũng được thảo luận trong chương 17). Thí dụ: Giảm âm suỵt (sibilance) của giọng hát thật sự có thể làm cho tiếng cymbals nghe tốt hơn; tăng mid-range cho giọng hát (vocal) và nhạc cụ có thể làm cho mid-range của âm thanh trống bị che đi (masked), v.v..
& Sự điều chỉnh EQ thường sẽ có tác dụng tốt hơn ở những tần số trung tâm hay tần số shelving (bao nhiêu thì phụ thuộc vào từng EQ cụ thể). Thí dụ, boost control shelving 80Hz cũng có thể ảnh hưởng lên đáp ứng 250Hz hay lớn hơn. Cho thí dụ khác, boost control peaking 2k để tăng độ trong của giọng nói, cũng có thể là nếu boost 4k thích đáng cũng gây ra vài mức độ thô ráp, v.v. Việc làm mức độ nhỏ đi này cũng áp dụng cho EQ graphic và EQ phía ngoài (outboard) khác.
& Khi đường biểu diễn đáp ứng của những thiết kế microphone khác nhau có thể bị thay đổi nhiều, nhu cầu về EQ có thể thay đổi lớn tùy theo từng micro. Thông thường để thu kết quả tốt hơn, thay thế bằng microphone có đường đáp tuyến thích hợp hơn. Trong nhiều trường hợp, những âm thanh đúng ý có thể đạt độ chặt chẽ hơn, đơn giản bằng cách thay đổi vị trí microphone để có được mô hình phù hợp cho nguồn âm thanh hơn.
& Chất giọng khác nhau thường yêu cầu cách điều chỉnh khác nhau, mỗi loại trống thường đòi hỏi điều chỉnh khác với cái khác, v.v. Thí dụ, thông thường, chúng ta yêu cầu boost low-end để mang lại độ sâu của trống bass hay tom bass, nhưng tuỳ thuộc vào đáp ứng của toàn hệ thống, đáp ứng micro, và âm thanh thực tế của trống, trong vài trường hợp, thật sự có thể cần phải cut đi những tần số thấp trên EQ onboard. Vì vậy, không phải luôn thực hiện quy tắc bất di bất dịch nào trong mọi trường hợp, ngoại trừ quy tắc chung về ngón tay cái.
Bảng 3 cho thấy vài thí dụ về tần số liên quan đến chất lượng chủ quan như mô tả trong một nghiên cứu chính thức được thực hiện bởi tác giả, và nói chung tất cả thường đồng ý với kinh nghiệm của tác giả. Vì nó khá chủ quan, dĩ nhiên nó dễ thành chủ đề tranh cãi. Bảng dưới đây chỉ nhằm mục đích hướng dẫn.
Bảng 3 Tần số liên quan tới chất lượng chủ quan.
|
Tần số |
Chất lượng |
|
31.5Hz |
Một sự mở rộng giải tần của chương trình âm nhạc điển hình có ít hay không có năng lượng trong giải 20 - 32Hz. Nói chung giải này này chỉ cần thiết cho những hiệu ứng đặc biệt. Hệ thống loa rất khó nhân bản có hiệu quả ở cấp độ đáng kể, đặc biệt là trong các ứng dụng pro-sound. |
|
40-- |
|
|
50 |
Quá nhiều năng lượng trong giải 40Hz -100 Hz; murky (tối, đục), muddy, hay khoảng 80 đến 100 Hz, bùm-boomy. |
|
63Hz-- 80 100-- 125Hz 160--
200
250Hz-- 315 400—
500Hz
630--
800 1kHz--
1.25kHz
1.6kH—
2kHz 2.5kH—
3.15kHz
4kHz—
5khz
6.3kH— 8kHz 10kHz— 12.5kHz 16.5kHz- |
Quá ít năng lượng trong giải 40Hz - 100 Hz: tiếng đạp trống kick thiếu, bass thiếu chiều sâu hay giá trị nằm ở nốt nhạc thấp.
Quá nhiều năng lượng trong giải 100Hz - 250 Hz; boomy, muddy, hay quá dày. Quá ít năng lượng trong khoảng 100Hz - 250Hz: nhạc cụ treble, voice hay trống snare thiếu chiều sâu hay độ dày. Quá ít trong khoảng 200Hz v.v; guitar bass hay dây đàn bass thiếu độ tròn tiếng.
Quá nhiều năng lượng trong giải 250Hz - 630Hz; cloudy, boxy, hay đục (opaque) Quá nhiều năng lượng trong biên độ hẹp từ 500 đến 800Hz, giống tiếng mega-phone. Quá ít năng lượng qua giải 250 - 630Hz; trống rỗng, thiếu đầy (fullness), vững vàng hay độ rộng (breadth), hay (đối với 800Hz) thiếu độ chắc (solidness). Quá nhiều năng lượng trong giải 630Hz - 1,200Hz; honky, quá cứng (hard), hay (khi cực đại) giống tiếng điện thoại. Quá ít năng lượng trong giải 630 - 1200Hz: thiếu fullness hay solidness đầy đủ. Quá nhiều năng lượng trong giải 1kHz đến 2kHz: quá cứng hay (» 2k) blary, Quá ít năng lượng trong giải 1kHz đến 2kHz: thiếu rõ nét hay đủ độ cứng.
Quá nhiều năng lượng trong giải 2kHz đến 4kHz; blary, tinny, trebly hay brash. Quá ít năng lượng trong giải 2kHz đến 4kHz, thiếu rõ ràng hay bite (khoảng 4k). Quá nhiều năng lượng trong giải 4kHz - 6kHz: quá gay gắt (harsh), sắc hay brash. Quá ít năng lượng trong giải 4kHz - 6kHz: thiếu cạnh đặc biệt, đôi khi nghe như thiếu độ rõ hay chặt chẽ (bite).
Quá nhiều năng lượng trong giải 6.3kHz và lên trên; tiếng suýt quá nhiều gây khó chịu Quá ít năng lượng trong giải 6.3kHz và lên trên; không nghe được tiếng suýt (S, T , Z) thiếu tiếng zip hay sweetness (tiếng zip ở 6.3-8k, sweetness ở 8k và lên trên. Giải này thường là giới hạn cực thính giác cho người lớn cố tai rất tốt. |
Hình 6
Đường biểu diễn của loại EQ kết hợp (combining type).
Một EQ đã boost ba band kề nhau ở đây chỉ dùng cho mục đích minh họa. Lưu ý, những band kề nhau có cùng tác động để tạo thành một đường biểu diễn bao quát hơn. Đây không phải là trường hợp của EQ không kết hợp, mà sẽ đánh dấu trong đường biểu diễn sự kết hợp. Đa số EQ graphic thương mại hiện nay là loại kết hợp. Tuy nhiên, cách có đường biểu diễn EQ trung bình tốt nhất là vị trí của những slider phải ở giữa, như minh họa dưới đây. Thường gặp loại không kết hợp là EQ, có nhiều band chồng chéo lên nhau quá mức, thường là đặc trưng của EQ 2/3 octave và 1/3 octave rẻ tiền (vì filter kém chất lượng). Ở đây, đôi khi cần phải bù thêm một chút theo hướng ngược lại ở band liền kề nó.
Cài đặt có vấn đề nếu hầu hết slider đều ở vị trí cắt
Cài đặt tương tự có vị trí hiệu quả hơn, bình quân là gần giữa trên hầu hết âm phổ.
Còn tiếp...