Tìm hiểu về Mixer 2

  • Ngày đăng: 02-10-2017, 9:46 am
  • Lượt xem: 5932

Bài 2- Tìm hiểu về Mixer(Tiếp)

Output phụ (Gởi đi) (Auxiliary Output (Sends))

Không có quy tắc bất di bất dịch nào để làm cho tín hiệu đi qua mạch điện của channel đến aux send. Thông thường, sử dụng theo hướng dẫn của hãng sản xuất.

Theo quy tắc chung, tín hiệu monitor hay foldback sẽ gởi bản sao của nó trước khi qua EQ onboard và fader (nói cách khác, những điều chỉnh không ảnh hưởng đến chất lượng âm hay cường độ của tín hiệu từ những bus đó). Cái này gọi là pre-EQ/pre-fader (trước EQ/trước fader). Mục đích của việc tách chức năng của núm monitor send ra khỏi sự di chuyển của fader channel là cho phép người vận hành điều chỉnh mức độ riêng biệt mà không cần quan tâm tới việc mức độ monitor nâng lên gần tới điểm xảy ra feedback, cũng như không phải để ý việc nó giảm đến điểm không thể nghe được nó trên sân khấu. Trong phần lớn trường hợp, việc xem xét cho khán giả khác với xem xét trên sân khấu.

Đôi khi monitor send lấy tín hiệu của nó sau khi qua EQ Channel, trong trường hợp đó nó sẽ gọi là post-EQ/pre-fader (qua-EQ/trước-fader) (nói cách khác, điều chỉnh EQ của channel sẽ tạo ra một sự thay đổi tương tự cho chất lượng âm của tín hiệu monitor, nhưng sự chuyển động của fader sẽ không ảnh hưởng đến nó).

Theo truyền thống, chỉ có mixer phòng thu (studio) mới nối điều chỉnh EQ của channel input vào tín hiệu monitor (trên board (mixer) này, thường gọi chức năng monitor là cue). Có ý tưởng nên có vài loại board nên thiết kế cho cả studio và live mixing, đây là nơi thường bắt gặp cấu hình này ở live mixing.

Vài người vận hành thật sự thích thiết kế này cho ứng dụng live khi mix tín hiệu monitor từ house (main- FOH) mixer.

Có lẽ tốt cho cả hai là sử dụng mixer có post-EQ monitor trong live pro-sound. Nói chung nó điều chỉnh chất lượng âm sắc của tiếng nói và nhạc cụ dội lại trong monitor khá thích hợp. Điều này là do khi hai hay nhiều ca sĩ, nhạc công đang hát hay chơi chung với nhau, người vận hành hiệu chỉnh âm sắc để làm chất âm cá nhân của họ hòa hợp tốt hơn với nhau. Nếu thực hiện những điều chỉnh này có hiệu quả diễn viên có thể hưởng lợi từ việc có điều chỉnh tiếng dội trong âm thanh monitor. (Nói cách khác xem xét tốt và điều chỉnh hiệu quả tiếng nói, nhạc cụ hài hoà với nhau giúp tạo ra sự hòa hợp tốt hơn dù là mix FOH hay mix monitor. Nhấn mạnh, trên thực tế, những người vận hành hệ thống giàu kinh nghiệm nhất đôi khi cũng mất cảnh giác, vì họ không luôn ở vị trí để nghe những kết quả trên sân khấu. Lỗi này đôi khi có thể thật sự làm bối rối cho diễn viên).

Hình 2

Mẫu điều khiển channel input cho một mixer 24 x 8.

(A) Nguồn 48V phantom on /off, cho phép cung cấp năng lượng từ xa cho hầu hềt miccro condenser thông qua dây micro.

(B) 30dB pad in/out, cho phép giảm thêm cho bộ suy giảm của input cao cấp đối với trường hợp C và/hay D không đủ.

(C) (D) Mic Trim và Line Trim. Trong thiết kế mixer, cung cấp bộ suy giảm riêng cho từng jack input XLR và những jack input ¼”.

(E) MIC/LINE select. Lựa chọn input channel cho dù nhận được tín hiệu từ jack XLR hay từ jack ¼” line input.

(F) Đảo phase. Cho phép đảo ngược phân cực lại khi cần. Một thí dụ về chuyện này là micro tùy chọn ở dưới trống snare.

(G) High Pass Filter. Nút này cắt giảm tần số thấp, thí dụ, cho vocal hay nhạc cụ khác không có nhu cầu cần tần số thấp (Low-cut).

(H) EQ kiểm soát tần số cao với shelving cut/boost.

(I) EQ high-mid với đặc tính peaking, hay chuông (bell). Cái trên điều chỉnh sự lựa chọn tần số trung tâm, cái dưới kiểm soát sự thay đổi số lượng cut hay boost. (Ở những hãng sản xuất khác, trên vài mixer, vị trí của hai nút này đảo ngược. Trên vài thiết kế, nó là loại đồng trục, đôi, nói cách khác là một cái nút vặn nằm bên trong cái khác).

(J) EQ low-mid với đặc tính peaking, hay bell. Tưong tự như high-mid, trừ giải của tần số trung tâm khác nhau.

(K) EQ kiểm soát tần số thấp với shelving cut/boost.

(L) EQ in/out, thoát khỏi EQ khi cần, được sử dụng thường xuyên nhất khi người vận hành mong muốn mẫu tín hiệu không có EQ, thay vì phải đặt tất cả nút điều chỉnh EQ ở giữa.

(M) Auxiliary send 1 và 2, trong thiết kế này là post-fader, với switch cho phép điều khiển ở trước fader volume nếu cần.

(N) Auxiliary send 3 và 4, trong thiết kế này nối vĩnh viễn với đằng sau fader (post- fader). Thông thường đây là những hiệu ứng send.

(O) PAN, gởi channel output trên cơ sở chuyển sang trái hay phải, trái sang submasters đánh số lẻ, phải sang submasters số chẵn.

(P) Submaster switch chuyển giao, sử dụng kết hợp với PAN.

(Q) Switch on/off channel, cho phép channel nghỉ ngơi khi không cần.

(R) Solo (PFL), cho phép giám sát qua head-phone trước fader của channel, hay kiểm tra mức độ trong master VU meter.

(S) LED cao điểm quá tải, đèn sáng lên là channel gần bị quá tải.

(T) Fader.

Nhưng khuyết điểm chính của post-EQ monitor send trong ứng dụng live là có nhiều khả năng xảy ra feedback ở giải tần số mà trong mixer chính có thực hiện việc boost. Chẳng hạn nếu boost EQ ở nhiều giải tần số khác nhau cho nhiều ca sĩ (rất phổ biến), gain before feedback của hệ thống monitor có khuynh hướng bị giảm (nói cách khác, sẽ tăng khả năng bị feedback). Điều này là vì thực hiện boost bằng EQ onboard sẽ làm tăng đáp tần hiệu quả của âm phổ bắt đầu boost trong lĩnh vực đó. Kết quả, có thể tạo ra vấn đề peak sẽ đi tới điểm xảy ra feedback. Vì lý do này, monitor send thường nối với pre-EQ.

Effects send hầu như luôn là post-fader, vì vậy bất kỳ sự điều chỉnh EQ và/hay fader channel nào cũng sẽ ảnh hưởng đến tín hiệu từ đó gởi đi. Điều này thông thường do thiết bị effect sẽ nhận được một tín hiệu tương tự như gởi đến main mix, và trả ngược lại phiên bản đã sửa đổi cho phù hợp. (Thí dụ: Nếu người vận hành cắt giảm tần số cao từ EQ của channel, chúng ta thường mong những tiếng high trên echo sẽ giảm tương tự, những echo khác chỉ cần nét âm thanh giống với tín hiệu ban đầu. Luôn luôn giữ cùng nguyên tắc này cho fader mức độ tổng).

Đôi khi hãng sản xuất gán những send này cho reverb và/hay echo, vì đây là công dụng phổ biến nhất cho một hiệu ứng vòng lặp (effect loop). (Tùy chọn này thường chỉ sử dụng trên mixer kích cỡ trung bình 12 channel hay ít hơn. Trong trường hợp của reverb send, đôi khi hãng sản xuất đã có trong thiết kế mixer một reverb loại dây lò xo rung (spring) cơ bản trong chính bản thân mixer, trong những mixer mới hơn có thể là reverb kỹ thuật số (digital) (còn gọi là FX-A/D) hay bộ xử lý đa tác dụng (multi processor).

Một input channel thường có một hay nhiều send (đôi khi trên tất cả), hãng sản xuất chỉ đơn giản là dán nhãn aux. Muốn biết các nhân này là pre hay post, người vận hành có thể cần phải tham khảo tài liệu của hãng sản xuất hay làm vài thử nghiệm và mày mò với nó để xác định nên mong đợi gì khi mixer sử dụng cho sự kiện thực tế. Nhiều mixer chất lượng cao cho phép người vận hành quyết định từ pre hay post bằng cách trang bị một switch thay đổi điểm lấy tín hiệu cho những aux cụ thể, send đến channel tương ứng.

Input phụ, hiệu ứng trở lại (Auxiliary Input, Effect Return)

Những điều khoản aux. loop và effect loop, như đã đề cập trước đây, nói về tuyến đường tín hiệu liên quan đến cả hai: send lẫn return. Tín hiệu return, có nhiều dạng điều chỉnh, sau đó sẽ có sẵn đề mix lại theo ý muốn.

Lẽ ra, trong việc kiểm soát tín hiệu return từ những thiết bị effect, nên sử dụng bằng một input channel tiêu chuẩn, chỉ vì nó kiểm soát những tín hiệu quay trở lại nhiều hơn. Khi có quá nhiều input channel bận bịu cho những đường tín hiệu đến từ sân khấu, sử dụng auxiliary để thay thế. Hầu hết mixer không ưu tiên việc thiết kế thêm nhiều input, trong nhiều trường hợp chỉ dùng một pot xoay để kiểm soát. Điều này đôi khi có thể đưa người vận hành vào thế bất lợi khi kiểm soát tín hiệu effect return, vì sẽ không thể kiểm soát EQ của tín hiệu return, và cũng vi pot xoay trên phần master nói chung sử dụng kém thuận lợi hơn fader tuyến tính của channel input tiêu chuẩn.

Hình 3

Chức năng Key input channel, cần phải kiểm tra lại trước khi bắt đầu biểu diễn hay sự kiện.

(A) Switch lựa chọn Mic/line và on/off channel (nếu có). Trên mixer không có switch on/off, switch lựa chọn mic/line thường dùng để chuyển đổi một channel in hay out khi cần. Như trường hợp bật hay tắt micro không dây, hay bị thay đổi bởi người khác trên sân khấu. Rõ ràng cần chú ý đến trạng thái của switch.

(B) Nguồn Phantom, Input pad và gain. Hình trên bên trái, switch phantom power (trong trường hợp này có tên 48VDC) sẽ không gây ra bất kỳ thiệt hại nào cho một micro dynamic tiêu chuẩn. Nhưng, bất cứ khi nào bật switch này, đôi khi sẽ nghe qua hệ thống một tiếng pop lớn nếu có dây micro cắm vào sau khi hệ thống đã power on. Rõ ràng, nếu sử dụng remotely powered direct box hay micro, cần phải ở đúng tư thế này. Switch pad bổ sung đôi khi là một vấn đề. Nếu nó tham gia trong quy trình kiểm tra, hay lúc bức thiết gặp phải tín hiệu cao bất ngờ trong một sự kiện, nó nên tham gia trong lúc sự kiện tạm lắng. Trong khi đó, có thể vặn ngược gain lại thấp nhất thay vì sử dụng fader, trừ khi trong trường hợp khẩn cấp hay bạn đang nghe tín hiệu bị méo, kết quả của tín hiệu quá mức. Khi tắt switch pad, quay núm input gain trở lại một chút trước khí làm như vậy, để tránh tín hiệu bị quá mạnh gây ra khó chịu. Sau đó, nếu cần, đưa gain hay fader trở lại dần dần cho đến khi thấy mức độ thích hợp.

(C) Lựa chọn Aux pre-fader hay post-fader, nếu có. Khi kiểm tra monitor bằng mixer FOH, pad này sẽ ở vị trí pre.

(D) Assign (gán) Pan/submaster, nếu có. Quá rõ, nhu cầu này cần kiểm tra lại để bảo đảm mỗi tín hiệu đều được gởi đi qua bus phù hợp. Pan trái để sang submasters số lẻ; Pan phải để sang submasters số chẵn.

(E) Khi sử dụng bất kỳ PFU/Solo nào để theo dõi mức độ của channel trong meter chính, cần thực hiện kỹ lưỡng để chỉ có một switch PFL tham gia, sẽ có giải thích khi kết hợp cùng với các channel khác. (Dĩ nhiên, nếu sử dụng head phone, có thể nhận ra sai sót. Nhưng ngay cả có head phone, đôi khi có đủ cross-pickup (thu chồng chéo) giữa micro trong buổi biểu diễn live, có thể có sai sót như vậy).

(F) Bắt đầu kiểm tra âm thanh với faders và/hay input gain tại hay gắn thiết lập (setting) thấp nhất của nó, rồi dần dần đưa lên đến một thiết lập trung bình thoải mái. Vị trí trung bình tối ưu cho faders thay đổi tùy theo từng mixer. Thường nhất là nó là khoảng 3/4 khoảng chạy, cho phép dù không gian để boost cho vocal chính/nhạc cụ hay để bù đắp cho mức tín hiệu khác. Hầu hết mixer sẽ có vài loại đường phân chia cho những vị trí trung bình được đề nghị tối ưu, nhưng không có quy tắc bất di bất dịch. Cuối cùng, dĩ nhiên, thực hiện cái gì cần phải làm để hoàn thành bất kỳ công việc cụ thể nào.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, trước khi bắt đầu kiểm tra âm thanh, mọi người nói chung là thích cài đặt tất cả cần gạt control EQ (không minh họa ở đây) ở vị trí flat của nó. Dĩ nhiên, khi bắt đầu sự kiện thực tế, hãy kiểm tra kỹ lưỡng để chắc chắn không bị sót lại bất cứ thiết lập nào trong quy trình kiểm tra.

Nhiệm vụ của pan và submaster

(Panning and Submaster Assignment)

Nhiều mixer thiết kế để sản xuất ra âm thanh nổi (stereo output) (mà, nhân tiện, không làm cho nó phù hợp khi sử dụng âm thanh mono). Để xác định có bao nhiêu channel tín hiệu cụ thể sẽ chuyển đến một trong hai channel output chính (trái và phải), trong thiết kế mixer sẽ trang bị một pan-pot. Viết tắt của từ panoramic potentiometer, chức năng này thường gọi đơn giản là pan.

Pan-pot rất phổ biến, thiết kế dùng để kết hợp với thiết bị switch assignment submaster. Trong trường hợp này (hình 2, 3), pan về bên trái có dẫn đường tín hiệu đến submaster số lẻ; pan về bên phải sẽ dẫn đường tín hiệu đến submaster số chẵn.

Meter, PFL, Solo

Có vài cách trang bị bộ hiển thị cho mức độ tín hiệu trong mixer. Vài mixer không trang bị meter nào cả, cho dù điều này chỉ thật sự có ở hầu hết mixer cơ bản và rẻ tiền nhất. Thông thường, bất kỳ mixer hiện đại nào đều sẽ trang bị ít nhất một bộ hiển thị quá tải. Điểm lấy mẫu cho loại chỉ thị quá tải on/off thường tham chiếu với mức độ output, mặc dù nhiều thiết kế có nhiều điểm lấy mẫu, mà bất kỳ một trong số đó, khi quá tải, sẽ gây ra tình trạng đèn quá tải sáng liên tục. Loại chỉ thị này có hay không thể có điểm lấy mẫu tại input channel thực tế, do đó, trong vài trường hợp, người vận hành có thể cần phải xem xét khả năng có tín hiệu input quá mạnh cho giai đoạn input vào channel. 

Khi chỉ trang bị một meter duy nhất, nó thường được tham chiếu với output level thực tế. Mixer đa năng, 12 channel trở lên, thường trang bị nhiều meter. Vài dạng thức đang phổ biến. Thông thường, mixer được thiết kế có một meter cho mỗi channel output chính và cho mỗi channel submaster. Nhiều mixer trang bị một hay nhiều meter có sự lựa chọn điểm lấy mẫu. Mixer loại này cho phép lựa chọn meter cho aux, level và/hay những channel riêng biệt trước khi đến fader của channel (một chức năng thường được gọi là nghe trước fader- pre-fader listen (PFL) hay solo). Việc dùng chức năng PFL gởi tín hiệu của từng channel sang headphone output, để có thể nghe nó một cách độc lập (do đó thuật ngữ PFL và solo, ban đầu đặt ra cho recording studio).

Peak nhanh đôi khi có thể gây ra sự sai lệch tạm thời, đặc biệt với bộ trống và những nhạc cụ gõ mà không được ghi nhận là quá tải ở thang độ meter, do đó cần chú ý thêm việc này. Mixer thường trang bị thêm đèn LED peak màu đỏ (loại meter có kim thường được kể là meter thực tế). Thông thường mixer có thang LED (thang chia độ thường là đèn LED màu xanh lục, vàng và đỏ) cung cấp tùy chọn để hiển thị peak level trên thang chia bằng việc sử dụng công tắc hay nút bấm (switch hay button).

Còn tiếp...